7 Nốt – Lê Giang Trần

7not_181208

Bìa trước, Họa Sĩ Vũ Thái Hòa
Bìa sau & phụ bản, Họa Sĩ Dương Phương Linh

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=88113&z=56

Nốt Bê-Môl năm

Xa hơn năm về lại Cali bỗng thấy Cali buồn như những nốt giáng. Dụng ý về thăm ba má nên tôi không đi ra ngoài ngoại trừ cần thiết. Vì vậy chẳng gọi lung tung, chỉ vài thân quen gần gũi. Sẵn về, mua ít sách, nằm nhà đọc cũng tiện.

Anh Hoàng Song Vân thời hợp tác các báo, anh cung cấp cho độc giả những bài kiến thức về loài vật, thiên nhiên, không gian, lịch sử thật độc đáo, ai đọc cũng yêu thích, đón chờ. Ðó là cái “thú vui riêng” của anh, anh mang ra “biến hóa” thành “món hàng” mưu sinh qua báo chí. Có lẽ bao nhiêu bộ “Bách Khoa Kiến Thức” đều khó lọt khỏi tay anh. Anh đã buông bút từ lâu mà hiện trên kệ sách anh cũng còn bảy bộ (anh cho biết).

Hồi đó đọc những bài sưu tầm kỳ lạ hấp dẫn của anh, tôi có ý nghĩ là anh không còn hứng thú giao du với “loài người” nữa. Anh khám phá ra ở loài vật chúng có tình, có thủy chung, có can đảm, có khí phách, có công bình, có bình đẳng hơn ở xã hội loài người; ở thiên nhiên, hoa cỏ, núi sông, rừng suối khiến tâm hồn cảm thấy an bình, thoát tục; đôi khi còn dạy ta một triết lý sống nào đó thật sâu sắc, thú vị. Hay cao xa hơn, không gian vô tận trên trời, những ngôi sao lấp lánh, những thiên hà, ngân hà mà theo bước khoa học khám phá dần ra, cho con người thấm thía về sự nhỏ bé, từ một hành tinh, một sinh vật, một siêu vi vật đến sự ngắn ngủi một kiếp đời, một kiếp sống. Có lẽ thế mà anh “nhìn thế sự phù vân lặng mỉm cười” chăng?

Tưởng sau thời gian dài anh “rửa tay gác kiếm,” những bài sưu tầm giá trị đã bị bỏ quên. Không ngờ có tờ báo yêu cầu anh gom toàn bộ công trình sưu tầm ấy để xuất bản thành sách. Ðây là một niềm vui trở lại, như Mùa Xuân trở về thắp nắng lên cây.

Nốt Bê-Môl sáu

Ðến ngồi chơi với anh trong phòng làm việc, thấy tập truyện “Bảy Nốt Trên Khuôn Nhạc,” tác giả Trang Thanh Trúc khá trẻ, tò mò tôi giở ra đọc. Ðọc bắt, đọc tới nữa, thích ngay, hỏi mượn anh. Ðêm đó, đọc một lèo liền tù tì. Ðọc một hơi giống như đọc “Tháng Ba Gãy Súng” hồi mới ra lò của Cao Xuân Huy.

Trong đầu tôi lúc mới về lại, Cali buồn như bảy nốt giáng, nay tình cờ gặp tựa đề bảy nốt nhạc, muốn coi bảy nốt trên khuôn của cô này ra sao, thăng hay giáng? Tập truyện là những mảng sống, những phiếm lòng, những nốt tâm sự. Ða phần đều ở trong khuôn không gian xa xứ, mà bằng lối văn ngắn gọn lôi cuốn, dẫn người đọc bước mãi theo “mùi hương” những con chữ thông minh sống động, một thứ mùi hương làm quyến rũ tâm hồn, làm rung động trái tim.

Chỉ có nữ giới mới thật sự biết sử dụng sức mạnh của mùi hương. Có khi phảng phất, có khi đậm đà, có khi ngọt mời, có khi nồng gọi, có khi hững hờ, có khi vu vơ; nhưng sức mạnh vô hình ấy khi chạm phải, có thể khiến cho tâm hồn say sưa, ý chí bi lụy, khiến người ta ngây dại, mềm lòng, mê đắm, mơ mồng, ghiền nhớ, yêu ái, tương tư. Có lẽ thế, Mai Thảo, một “tay chơi sành điệu,” nên ông có tác phẩm “Ðể tưởng nhớ mùi hương.”

Tôi có đọc được vài truyện của Phạm Thị Hoài. Nữ văn sĩ này thuộc hàng cao thủ, võ công ghê gớm không kém Nguyễn Huy Thiệp. Ðọc hay mà sợ. Ðây là thứ võ công sát thủ, như Tây Môn Suy Tuyết, lạnh lùng thổi giọt máu còn vương trên mũi kiếm sau tuyệt chiêu kết liễu. Tôi yêu văn Lê Thị Huệ. Tôi thú vị với văn phong ngắn gọn tươi tắn của Trang Thanh Trúc. Về thơ thì tôi yêu tiếng thơ Ngô Tịnh Yên. Yên cũng là người phụ nữ ôm hai đứa con như Thanh Trúc, nhưng trải qua cay đắng, vất vả và nghèo khổ lúc chia tay vợ chồng. Chất sống ấy biến Yên thành một nhà thơ “thật thơ.” Thơ của Yên đầy chất thật của cuộc sống mà cô bươn chải, đương đầu. Người có trái tim thật sự không thể nào đọc thơ Yên mà con tim mình không rung động ngậm ngùi, chưa kể cô có một “phong thái thơ” tuyệt vời riêng. Tôi và Yên là bạn thân tình.

Lần mua sách này, có bộ “Liêu Trai Chí Dị,” Cao Tự Thanh dịch, gồm hai quyển 500 truyện. Ðọc thong thả, xen kẽ, vào buổi tối. Công nhận Cao Tự Thanh dịch hay, văn phong hấp dẫn, đọc không bị sượng, khâm phục. Thanh Trúc có nhiều truyện ngắn không kém gì ở Liêu Trai. Ðằng sau cái tươi tắn, trẻ trung, bình thản của Thanh Trúc, thỉnh thoảng tiềm ẩn một nỗi buồn nhẹ nhàng kín đáo. Hãy đọc thử một đoạn trong “Viết cho Trực” để nhận ra vì sao tác giả có lối văn xinh tươi trong sáng.

“Hãy sống với lòng rộng lượng bao la hơn. Con sẽ cảm thấy bớt cô đơn hơn, và niềm vui hình như sẽ dễ nhận ra hơn! Hãy biết khen khi con nhìn thấy điều hay, cái đẹp trước mắt. Ðừng ngại khi khen một người bạn là tự hạ thấp sự yếu kém của mình. Hãy đừng chê bai điều gì nếu như con không biết khen lấy được một lời. Hãy tập biết tha thứ để mai sau này khi con vấp ngã con sẽ cảm thấy vết đau nào cũng không chóng lành, nếu ta không thật sự cố gắng quên đi!”

Và thêm một chút, “Ngày mai có là gì đi chăng nữa, hãy luôn biết cảm ơn và giữ gìn những tấm lòng của những người đã đến và thương yêu mình… Sống đừng quá quan trọng vấn đề! Con hãy sống ngay thẳng cho chính bản thân con là được rồi.”

Cô gọi là “chút tâm sự viết riêng cho con.” Ðó là những lời dặn dò dành cho đứa con trai 12 tuổi của tác giả. Khi mình “thật có” mình mới có thể “thật cho” người khác được. Những lời tâm sự dành cho “con” này, tôi thêm vào sau chữ “con” một chữ “người” nữa.

Quả thật bảy nốt của Thanh Trúc rớt xuống khuôn truyện đều toát ra mùi hương của nỗi buồn lá khuynh diệp rơi thanh thoảng trong Mùa Hè oi bức. Cái khuôn đời-sống-xứ-xa oi bức và chật hẹp như một khuôn nhạc. Những nốt-nhạc-đời-sống ấy thăng giáng, bổng trầm. Có nốt rớt xuống dưới khuôn, có nốt vượt lên khỏi khuôn, có nốt muôn đời an phận quẩn quanh trong năm dòng kẻ. Truyện của Thanh Trúc như những tiết tấu khi ngắn khi dài, khi nhanh khi thong thả, khi réo rắt khi lạnh lùng, tác giả dạo thành những bài “Tình” ca đầy xao xuyến rung động lòng người.

Là một người “biết sống,” cho con những dặn dò mà chính người mẹ ấy đã sống qua như thế, thì sao không làm cho ta đem lòng quý trọng được? May thay, nốt nhạc của đời nàng và nốt của ai kia “sống thật,” lại là hai nốt-giáng hóa sinh hai nốt bình thường. Không phải treo lơ lửng bất thường. Bình thường là sống hạnh phúc, an lành; bất thường là sống dở chết dở, tiến thoái lưỡng nan.

Một chút buồn thôi. Vì Mi và Si cách xa nhau chỉ mỗi một lằn kẻ hàng rào.

Nốt Bê-Môl bảy

“Bà con xa không bằng láng giềng gần.” Ðọc trong tập truyện mới biết Trúc xóm giềng với Dũng, nên có truyện kể về Don Hồ. Quả đất quả tròn, hai người gặp lại, tình càng thêm thân.

Khi cassette đầu tiên của Don Hồ xuất hiện gồm nhiều nhạc phẩm ngoại có lời Việt (nếu nhớ không lầm), và Don Hồ đã hát xuất thần băng nhạc ấy. Lại đúng ngay lúc nhạc ngoại vừa chớm tái xuất giang hồ sau thời gian bặt tiếng vì nhạc Việt quá mạnh trong thời kỳ tô đậm lại vàng son, kỷ niệm. Cơn nhập đồng mệt mỏi, cơn trốt xoáy lắng chìm, trao trả lại cho tiếng sóng rì rào dịu dàng của nhạc tình Pháp một thời chinh phục những trái tim lãng mạn thanh xuân. Don Hồ tiêu biểu cho tiếng sóng dịu dàng lãng mạn ấy, khơi động lại những con tim nồng nàn mơ mộng. Don Hồ thành công ngay qua cassette ấy, nhanh chóng được yêu thích, trở thành một ca sĩ nổi tiếng, một thời là tiếng hát độc quyền của Thúy Nga.

Một ca sĩ tài danh, vị ấy không nhất thiết cần có những bài viết lăng-xê. Chính thính giả ái mộ thân ái tặng cho tiếng hát của họ những biệt danh. Như “tiếng hát vượt thời gian” dành cho Thái Thanh. “Tiếng hát liêu trai” dành cho Thanh Thúy, v.v. Nhưng một nhà báo nào đó lăng-xê “tiếng hát đậu trên tầng mây” thì quả là bơm bốc quá đáng.

Don Hồ đã tạo cho mình một khung trời riêng, một vị trí vững vàng. Thiết nghĩ không cần “quảng cáo” thêm. Giọng hát anh không thuộc loại “xé tan màn đêm” như Bằng Kiều, mà ấm áp nhẹ nhàng như lời thì thầm của gió sớm, như mát dịu mơn trớn của cơn mưa phùn, như vuốt ve của dòng suối quấn quít. Thổi tiếng hát lên cao thì như cánh buồm chơi vơi, như tiếng kèn trầm buồn ngân bay qua núi. Cho nên tôi thích nghe Don Hồ hát vào những buổi sáng dậy sớm yêu đời, tiếng hát lan lan lơ lửng trên những cánh hoa còn lâm râm sương đọng, rồi nhẹ nhàng tan theo vạt gió rừng im.

Trong căn nhà thanh vắng nơi góc rừng, đôi khi tôi rơi vào không gian ấm cúng của Quang Dũng. Ðôi khi tôi rớt vào núi cao của Bằng Kiều. Ðôi khi tôi chìm giữa đêm khuya với ngọt ngào Ngọc Hạ. Ðôi khi theo Ngọc Anh thăm những Hà Nội của Phú Quang. Ðôi khi dong ruỗi theo Trần Thu Hà để uống say hơi hướm thơm Jazz của Thu Hà rồi nhớ đến Blue Hùng Cường, Blue Duy Khánh và nhớ tiếng guitar Jazz Jimmy Long, người bạn đang giang hồ đâu đó Vieng Chan, Saigon.

Nhưng rồi khi tiếng chim kêu mở cửa chào sương sớm, tôi lại mời Don Hồ thả tiếng hát lãng đãng dạo trên những hồng lan cẩm chướng. Sáng nào như vậy, tôi thường nhớ người bút hiệu Hoàng Song Vân.

Quen nhau, anh Hoàng Song Vân cho tôi biết loáng thoáng anh chơi đàn măng-đô cùng thời Phạm Duy. Khi Don Hồ thành danh, có lần anh tâm sự, “Không ngờ thằng Dũng nhà tôi hát hay như thế,” nét mặt anh đầy niềm vui ấm áp. Cây đàn măng-đô không đẩy tuổi trẻ anh rơi vào khuôn nhạc, nhưng dòng máu nghệ sĩ trong anh đã có truyền thừa. Ngoài Dũng thành danh, cô em gái cũng vẽ họa tài tình. Anh khiêm tốn dành hạnh phúc ấy cho người vợ thương yêu của mình, “Chúng nên người đều nhờ mẹ chúng cả.” Phần anh, anh chọn riêng cho mình một không gian đầy sách vở.

Cảm ơn anh chị luôn thương thằng em nhỏ. Cảm ơn những đĩa nhạc Don Hồ cho tôi những sớm mai yêu đời. Cảm ơn những ca sĩ rung lên hồn nhạc. Cảm ơn “Bảy nốt trên khuôn nhạc” cho tôi một chút Paris chưa biết, và một đêm bước hoài theo bảy nốt.

Lê Giang Trần

Little Saigon, Chủ Nhật 12/10/08

(Gửi Hoàng Song Vân, Thanh Trúc, Don Hồ)


Publicités

Laisser un commentaire

Entrez vos coordonnées ci-dessous ou cliquez sur une icône pour vous connecter:

Logo WordPress.com

Vous commentez à l'aide de votre compte WordPress.com. Déconnexion / Changer )

Image Twitter

Vous commentez à l'aide de votre compte Twitter. Déconnexion / Changer )

Photo Facebook

Vous commentez à l'aide de votre compte Facebook. Déconnexion / Changer )

Photo Google+

Vous commentez à l'aide de votre compte Google+. Déconnexion / Changer )

Connexion à %s

%d blogueurs aiment cette page :