Gọi người xa vời

Nhạc và lời : Trang Thanh Trúc
Don
Hồ trình bày

http://fr.youtube.com/watch?v=jgo4MDFIbvo

Chân dung TTT qua nét vẽ Dương Phương Linh

Nguyễn Đức Cường và câu chuyện Châm Cứu

Nguyễn Đức Cường,

Sinh năm 1952 tại Sài Gòn

Cựu Học sinh Trung Học Mạc Đỉnh Chi, SG

Cựu Sinh viên Đại học Chính Trị Kinh Doanh, Đàlạt

Cựu Sĩ quan QLVNCH

Hiện đang hành nghề Đông Y tại Hoa Kỳ

Trú quán: Miền Nam California, USA

TTT : Thưa anh, anh là một nhạc sĩ, thi sĩ. Vậy nguyên nhân nào đưa đẩy anh vào nghề châm cứu?

Đời sống lắm chuyện tình cờ, và một trong những tình cờ ấy, đã đưa tôi đến với khoa Châm cứu, một ngành Y khoa Đông phương mà trước đó, nhiều lần tôi cũng “tình cờ” nghe nhắc đến, nhưng rồi cũng để ngoài tai.

Đó là thời kỳ 1975-1985, một thập niên của Việt Nam đói nghèo, khổ đau và kiệt quệ đến tận cùng. Một chén cơm chia nhau, giá trị hơn ngàn lời hứa hẹn, môt viên thuốc cho nhau, nặng gấp trăm ân sủng mơ hồ. Người ta sống từng ngày để thấy mỗi ngày, đời mình một tan tác hơn. Cái đói lấn át cái bệnh. Và Bệnh, vô hình chung trở thành một sự xa hoa trên thân phận của mình.

Trong thời kỳ đó, ác nghiệt thay, vào giữa năm 1977, tôi bị đau răng, và viêm cả nướu răng. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không thể quên được cơn đau trong những ngày đó đã hành hạ mình “tàn nhẫn” như thế nào! Thoạt đầu, tôi dửng dưng, ăn nhằm gì, nhà mình còn trụ sinh mà, Ampicycline chứ chẳng chơi đâu, chỉ cần 3 ngày thôi là mọi sự sẽ bình thường. Nhưng rồi 3 ngày trôi qua, mỗi ngày 1500 mg trụ sinh mà vẫn chưa thấy gì lay chuyển, lại thêm 3 ngày nữa. Lạ thật! Cái đau vẫn y nguyên, không những thế, mặt tôi đã bắt đầu sưng tấy, và tệ hại hơn, tôi không còn ăn uống gì được nữa. Ngay cả nói chuyện, cũng không, tôi phải dùng bút mực để “đối thoại” với người nhà. Rồi suốt một tuần lễ sau, tôi chỉ còn có thể hé mệng để uống chút sữa thay cơm mà thôi. Tiếp tục uống trụ sinh đến hết tuần lễ thứ hai, vẫn không kết quả, tôi bắt đầu hoảng hốt. Không hoảng hốt sao được, thời kỳ đó, người dân Sài gòn đã biết nếm mùi “Giấy giới thiệu”. “Hành trình” khám bệnh bắt đầu từ Trạm Y tế Phường, nếu chữa không xong, Phường mới cho giấy giới thiệu lên Y tế Quận. Nếu vẫn không xong, mới tới phiên nhà thương. Nhưng tại nhà thương, bạn sẽ được phát cho một đợt thuốc trụ sinh của Nga hay Tiệp Khắc… là những loại trụ sinh trói vi trùng không chặt. Được vậy cũng là may mắn, còn không thì sẽ là Xuyên Tâm Liên, một loại thuốc Đông y thường chỉ được dùng để trị các chứng nhiệt độc ở Phổi, đường tiểu, và Da khá hiệu quả, không hiểu vì sao, lại được Bộ Y tế nâng lên hàng thần dược có khả năng trị bá bệnh, cho bá nhân bá tánh! Tôi đành chịu trận nằm nhà, ôm lấy cơn đau, không biết sẽ tới bao giờ. Sau 14 ngày dùng trụ sinh liều lượng cao, cơ thể tôi nóng ran lên, cộng với cái đói vì không ăn được, tôi đành ngưng tất cả. Cho đến một buổi sáng đẹp trời, một người bạn, NCT, đã là một ca sĩ nổi tiếng từ trước 1975 đến thăm, thấy tình cảnh tôi, bèn nói:

-“Thôi, ông đi châm cứu đi!”

Tôi hỏi:(bằng giấy viết)

-“Châm cứu là cái gì?

-“Là người ta dùng kim châm vào huyệt trên người mình để trị bệnh”, T. trả lời.

– “Sao người ta biết trong người mình có huyệt mà châm?”

– “Trong người mình thiếu gì huyệt, người ta học thì phải biết chứ. Hồi xưa tôi học võ, cũng biết mà! Ông cứ thử đi, hay lắm đó, tôi bị bệnh viêm xoang mũi, cứ bị nghẹt hoài. Mấy năm nay rồi, ngày nào tôi cũng phải nhỏ thuốc Rhinex, không có là không xong. Nhưng từ ngày đi châm cứu đến giờ, tôi không còn phải lệ thuộc vào ba cái thuốc nhỏ mũi nữa, mà đâu có phải châm nhiều đâu, có 7, 8 lần à.”

-“Thôi đi ông, hai tuần nay tôi uống Ampicicline, loại của Pháp đàng hoàng, mà vẫn chưa thấy kết quả, huống chi là ba cái kim. Tôi định sẽ ngậm nước muối vài ngày, chờ hết sưng, đến Nha sĩ nhổ quách đi là xong”, tôi loay hoay viết trả lời vào tờ giấy. T. đọc xong, ra về một nước, nhưng trước khi ra khỏi cửa, còn nói với một câu:

-“Tùy ông, nhưng mà khi nào muốn, cứ tới đó thử xem sao.”

Nói xong, T. còn cho tôi địa chỉ rồi mới ra về.

Sáng hôm sau, tôi quyết định đến “thử xem sao”.

Đó là một căn nhà tư nhân trong một đường hẻm, bên cạnh chùa Giác Minh, trên đường Phan Thanh Giản. Tiếp tôi là một chị tên Sánh, tuổi độ 25. Chung quanh chị, rất nhiều bệnh nhân chen nhau ngồi chật từ trong nhà ra đến ngoài vườn. Bác Năm, sư phụ của chị, chủ nhà, cũng là một cư sĩ Phật giáo cao niên, khoảng 70, nhưng trông rất khỏe mạnh, đôi mắt sáng quắc, từ ánh nhìn của Ông, người ta thấy toát ra thần uy của một vị La Hán. Đến nơi, tôi mới biết, đây là một điểm châm cứu chữa bệnh phước thiện, mà Bác Năm đã tự nguyện mở ra từ sau năm 1975 để giúp dân nghèo, không lấy một đồng xu thù lao nào cả. Sau này, tôi từng chứng kiến, rất nhiều người khỏi bệnh, đem quà cáp đến đền ơn, Bác nhất định trả về.

Chị Sánh hỏi tôi: “Anh đau làm sao?”

Tôi cố gắng nói:

-“Tôi đau răng quá, đến độ không thể ăn uống gì được suốt hai tuần nay!”

Chị xem xét vùng đau rồi bắt đầu châm. Tôi còn nhớ, chị đã châm cho tôi 3 huyệt, 1 ở góc hàm, và 2 huyệt khác ở vùng lưng trên (1). Thao tác của chị khá nhẹ nhàng, tôi chỉ có cảm giác thoáng qua như bị kiến cắn rồi thôi. Chị lưu kim 20 phút, sau đó lấy ra và bảo tôi trở lại vào ngày mốt.

Ngay chiều hôm đó, sau một giấc ngủ, tôi mừng quá, vì cảm giác đau đã vơi đi một nửa, nhưng điều làm tôi mừng nhất, là đã có thể ăn được một chút gì! Rồi mỗi giờ đồng hồ sau, cơn đau mỗi nhẹ dần đi, cho đến trước khi tôi gặp chị lần thứ hai, cơn đau đã giảm đến 70 %.

Lần này, ngay sau khi châm xong, Chị nói:

-“Chắc anh không cần trở lại đây nữa đâu.”

Quả nhiên, sau lần châm cứu thứ hai đó, tôi đã hết đau hoàn toàn. Chuyện quá khó tin, nhưng có thật. Nhưng cũng bởi vì quá khó tin, nên sau đó, tôi đã tìm cách lý giải một mình: “Có thể lúc mình tìm đến châm cứu, cũng là lúc thuốc trụ sinh đã bắt đầu tác dụng, chứ lẽ nào chỉ có vài mũi kim thôi mà lại khỏi nhanh đến thế.” Và tôi đã rất “yên chí” với lập luận của mình, cho dù ơn chữa bệnh của chị S., tôi không thể nào quên.

Đời sống cứ thế vẫn chầm chậm, mỏi mòn trên đôi chân uể oải của cả dân tộc. Những bất hạnh dẫy đầy chung quanh tôi, từ khi vận nước suy tàn, cũng đẩy câu chuyện đau răng chìm vào quên lãng thật nhanh. Cho đến vài tháng sau, cuối năm 1977, tôi bị cảm nặng. Thời tiết năm đó lạ lắm, chưa bao giờ lạnh đến thế. Có những ngày, người dân Sài gòn phải mặc áo len. Họ kháo nhau: “Bộ đội đem cái lạnh từ Bắc vô Nam!”.

Nhà tôi lại không còn một viên thuốc cảm nào. Từ sau cuộc đổi đời 1975, tôi thường chia thuốc cho hàng xóm, hay bạn bè những khi cần, và trước đó hai tuần, tôi đã chia đến viên Aspirin cuối cùng.

Không biết phải làm sao, tôi tìm đến Đặng Công Minh, một người bạn cùng trường Mạc Đĩnh Chi ngày nào. Sau 1975, anh cũng trở thành học trò của Bác Năm về khoa Châm cứu.

Đường đến nhà Minh gió nhiều và lạnh, lần đầu tiên, tôi phải mặc áo len giữa đường phố Sài gòn. Tôi đến Minh chỉ với ý định nhờ cạo gió. Nhưng trái với điều tôi chờ đợi, Minh muốn châm cứu cho tôi. Lần này khác với lần trước, anh châm và cứu (hơ ấm huyệt) cho tôi 4 huyệt ở vùng lưng trên (2). Để cứu, anh dùng một cây thuốc Ngải cứu to bằng điếu xì gà (Ngải cứu là một loại Đông dược, không liên quan gì đến loại cây ngải, thường dùng để luyện bùa ngải mà ta thường nghe nói đến).

Chừng 20 phút sau, Minh hỏi:

-“Xong! Ông thấy đỡ chưa?”

-“Có vẻ bớt sốt, và bớt nhức đầu, còn cái lạnh thì phải bước ra khỏi nhà mới biết được”, tôi trả lời.

Sau đó, chúng tôi rủ nhau ra một quán cà phê vỉa hè gần đó. Bên ngoài, gió vẫn từng cơn, mang theo chút hơi ẩm của một trận mưa sắp về. Chuyện phiếm chừng 30 phút, Minh lại hỏi:

-“Bây giờ đỡ chưa?”

Tôi đáp:

-“Ừ nhỉ, Ông hỏi tôi mới để ý, bây giờ hết lạnh rồi”, vừa trả lời, tôi vừa xoa vai, và chợt biết, mình đã quên mặc lại chiếc áo len dầy cộm như khi đến.

Sáng hôm sau, cơ thể tôi trở lại bình thường.

Đó là lần thứ hai tôi được chữa trị bằng khoa Châm cứu, kết quả nhanh hơn uống thuốc rất nhiều. Nhưng lần này, tôi cũng có một lý do khác: “Mình còn trẻ, sức đề kháng còn mạnh, nếu không uống thuốc hay châm cứu, sớm muộn gì cũng hết thôi”. Thế là một lần nữa, tôi nhìn kết quả trị liệu đến từ Châm cứu như một may mắn tình cờ.

Nhưng cũng từ hôm đó, trong tiềm thức tôi, dường như một điều gì đang thức dậy – vừa là một cảm xúc mỗi lúc một sâu đậm trước những dấn thân không điều kiện của những con người thật bình thường trong thoáng nhìn đầu tiên, nhưng “phía trong” là cả một cõi lòng dạt dào thương tưởng đến tha nhân, một tâm hướng vì đời không mệt mỏi – vừa là một phân vân về thân phận của chính mình, sẽ đi đâu, về đâu, khi mà chung quanh tôi, âm thanh của cái Ác ngày một lớn dần trong một xã hội từ sáng sớm đến nửa khuya luôn ồn ào khẩu hiệu, những giá trị nhân bản đích thực lui dần vào quá khứ, nhường lại hiện tại cho một cuộc sống còn quyết liệt. Người ta khinh ghét những lời tuyên truyền huênh hoang dối trá, chế diễu những luận điệu ngớ ngẩn vụng về, nhưng cùng lúc, trong tận đáy lòng một số người, nỗi sợ bị “xã hội mới” loại trừ mỗi ngày một lớn! Tôi hiểu, dân tộc Việt Nam đang đi vào một chặng đường mịt mùng nhất của lịch sử. Hư và Thực chồng chéo lên nhau trong tâm trạng từng người, và toàn cảnh cuộc đời trở thành một bức tranh bi hài rộng lớn!

May thay! Trong cảnh ngộ “Thiên Hạ mang mang ai người tri kỷ” (3) ấy, cái Thiện dù ẩn mình, nhưng vẫn còn đang tồn tại. Bác Năm, chị Sánh, anh bạn Minh, và nhiều người khác nữa, trong cách nhìn của tôi, là những viên ngọc lấp lánh hiện ra một cách bất ngờ trong những ngày tăm tối ấy.

Ba tháng sau, tôi lại gặp một vấn đề sức khỏe khác. Đôi chân bỗng nhiên bị mỏi nhừ và nóng âm ỉ một cách lạ thường, lúc đầu tôi không để ý, vì nghĩ là mình đi xe đạp nhiều, nghỉ ngơi ở nhà vài ngày sẽ hết. Nhưng không, cảm giác mỏi nhừ và nóng vẫn mỗi ngày một tăng, xoa bóp cũng không xong. Tôi vốn khó ngủ, nhưng khi ngủ được chừng một giờ đồng hồ, lại bị thức giậy. Cảm giác mỏi nhừ và nóng không ở bắp thịt, mà hình như ở tận trong xương tủy (4).

Tự xoa bóp cho mình thêm một tháng trời nữa, vẫn vậy, tôi hoang mang tự hỏi: “Hay là mình bị chuyện gì về Xương?”. Sau cùng, vào một buổi sáng, tôi quyết định đến nhà Minh một lần nữa để thử xem anh có thể giúp được gì không. Tôi vừa bước vào vừa nói:

-“Này, tôi đang có chuyện, nếu bạn giúp được, tôi sẽ xin làm học trò bạn luôn”

Minh ngạc nhiên:

-“Ông cần chuyện gì, mà học cái gì mới được chứ?”

-“Thì học Châm Cứu, nhưng mà ông phải chữa cho tôi khỏi cái vụ này mới được”. Tôi nhấn mạnh hai lần, có phần thách thức, vì không tin rằng chuyện “thần kỳ” sẽ xảy ra lần nữa.

Sau khi nghe tôi mô tả tình trạng của mình, Minh chẩn mạch, suy nghĩ vài phút, lẳng lặng sắp xếp bộ kim rồi bảo tôi nằm xuống. Sau lần châm thứ nhất, tôi chưa thấy gì thay đổi. Nhưng đến sáng hôm sau, khi thức dậy, cảm giác mỏi đã bớt đi một nửa. Tiếp tục châm cứu thêm hai lần, đôi chân tôi đã trở lại bình thường.

Lần này thì tâm tư tôi đã bị lay chuyển thật sự. Giữ đúng lời hứa, hai tuần sau, tôi chính thức trở thành học trò của Minh. Anh dậy tôi những bài học căn bản gồm các học thuyết Đông y quan trọng, những bài học về hệ thống Kinh Mạch và Huyệt đạo trong cơ thể, phương pháp chẩn đoán và quan trọng nhất, cách thiết lập một phương huyệt hữu hiệu (effective point’s prescription) để việc trị liệu đạt được kết quả nhanh chóng.

Câu chuyện từ ngày đó đến nay đã hơn 30 năm, trong quãng thời gian này, sau khi học với Minh, tôi đã trải qua nhiều giáo trình Đông y khác tại Việt Nam cũng như tại Hoa Kỳ, nhưng phải thành thật mà nói, những bài học đầu tiên từ Minh đã giúp ích cho tôi nhiều nhất. Lúc đó, tuy còn khá trẻ, anh đã là một Đông Y sĩ vững vàng từ học thuyết cho đến thực tế lâm sàng. Ngoài ra, tôi cũng học được từ anh một thủ pháp khá điêu luyện, đưa kim vào huyệt mà bệnh nhân không hề cảm thấy đau, hoặc đôi khi nếu có, chỉ là một thoáng chốc rất nhanh. Thủ pháp độc đáo này, về sau, đã giúp cho bệnh nhân của tôi an tâm, không chút căng thẳng vì sợ kim trong lúc trị liệu.

Tôi vốn sinh ra trong một gia đình Tây học, trong họ hàng lại có vài người là Bác sĩ nổi tiếng. Vì thế, nếu tôi đã từng mang nặng thành kiến xem nhẹ Đông y, cũng là chuyện bình thường. Nhưng bây giờ hồi tưởng lại, việc tôi trở thành một thầy thuốc Đông Y lại không bình thường một chút nào. Nói đúng ra là Đông Y đã chọn tôi, một kẻ từng chủ quan trong nhận thức về một nền Y Học cổ truyền quá sâu xa, lại có phần nào trừu tượng trong hệ thống lý luận, khiến những ai chưa thấu triệt, sẽ dễ dàng “nhún vai”, hay “bĩu môi” rồi kết luận rằng Đông Y chỉ là sản phẩm của một hệ thống học thuyết mơ hồ, không chứng minh được (như Tây Y) trong phòng thí nghiệm.

Đúng, Đông Y không thể chứng minh được sở trường của mình trong phòng thí nghiệm, nhưng trải qua nhiều ngàn năm trong lịch sử nhân loại, những Đông Y sĩ, đã chứng minh sở trường của mình bằng việc gặt hái rất nhiều thành quả tốt đẹp trong thực tế trị liệu. Những khẩu quyết trong học thuyết Đông Y cổ truyền, chỉ rõ mối tương quan chặt chẽ giữa Tâm lý (cảm xúc) và Sinh lý (phản ứng của hệ thống thần kinh giao cảm và đối giao cảm, cũng như của các cơ quan nội tạng trước cảm xúc), không khác gì những phát hiện của khoa Tâm Sinh Lý học sau này. Ngoài ra, Âm Dương, Ngũ Hành không chỉ là những học thuyết Y học thuần túy, mà còn là những nguyên lý, khai mở một nhãn-quan-đồng-nhất-thể giữa con người và vũ trụ bao la, đồng thời đem đến cho con người một nhận thức đúng đắn về mối tương quan giữa cá nhân với gia đình và xã hội.

Mỗi lần nhìn lại chặng đường đã qua, tôi vẫn thầm cảm ơn tất cà những người tốt bụng và thiện duyên đã đẩy đưa tôi đến với Đông Y, một kho tàng Y học mà không biết đến bao giờ tôi mới thấu triệt được hoàn toàn. Và tận đáy lòng, tôi ước mơ một ngày nào đó, Tây Y, với những tiến bộ và thành tích vượt bực của mình, sẽ thật sự song hành với Đông Y trong việc phục vụ sức khỏe cho con người. Ngày ấy, mối “lương duyên” giữa hai sở trường này, dù khá muộn màng, nhưng chắc chắn sẽ đem đến cho nhân loại một phương pháp an toàn và hoàn hảo hơn trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh tật, vốn không bao giờ kết thúc. Mong thay!

Chú thích:

1/ Sau này, tôi mới biết đó là huyệt Giáp xa, nằm ở góc hàm dưới. Hai huyệt kia đều mang tên Tâm du, vùng lưng trên.

2/ Hai cặp huyệt Phong môn và Phế du, vùng lưng trên.

3/ Một câu trong bài thơ “Hồ Trường” của Nguyễn Bá Trạc.

4/ Đông y gọi triệu chứng này là “steaming bone disorder”, bệnh nhân cảm thấy dường như Nhiệt âm ỉ phát sinh từ xương.

TTT : Xin anh giải thích sơ lược về khoa Châm Cứu.

Khoa Châm Cứu

Nói một cách tổng quát, khoa Châm Cứu là một ngành của Ðông Y, dựa trên học thuyết Âm Dương (Yin-Yang Theory), Ngũ Hành (Five-Elements Theory) và Kinh Mạch (Channel and Vessel Theory). Có tất cả 12 Chính Kinh (6 Kinh Dương, 6 Kinh Âm) và 8 Mạch (4 Dương Mạch, 4 Âm Mạch) được phân bố khắp cơ thể con người. Các Kinh Mạch này dẫn truyền giòng năng lượng (Energy – còn được gọi là Khí hay Sinh khí), liên hệ với các Nội Tạng. Bên cạnh đó, trong mỗi chúng ta, Âm-Dương là hai nguồn năng lực vừa đối nghịch, vừa hỗ tương nhau, cần phải được quân bình, để bảo đảm cho giòng Khí lưu thông tốt đẹp. Ngược lại, sự bất quân bình Âm-Dương sẽ khiến giòng Khí bị đình trệ hay tắc nghẽn, đưa đến rối loạn và bệnh tật.

Có trên 2000 huyệt (point) nằm trên và ngoài các Kinh Mạch, mỗi huyệt mang một nhiệm vụ riêng. Khoa Châm Cứu tin rằng, qua huyệt, người ta có thể tái lập được sự quân bình Âm-Dương, đưa giòng Khí trở lại bình thường, để phục hồi sức khỏe từ Tinh thần cho đến Thể chất.

Châm Cứu được thực hiện như thế nào?

Châm Cứu được thực hiện bằng các kỹ thuật Châm (Acupuncture), và Cứu (Moxibustion – hơ ấm), hay Điện châm (Electronic-Acupuncture) trong thời cận đại, nhằm kích thích và khai thông các huyệt hầu tái lập sự quân bình trong cơ thể. Ðó là một loại kim rất mảnh, đặc và nhuyễn, làm bằng kim loại không rỉ sét (steel metal alloy), nhỏ như sợi tóc, thậm chí nhỏ hơn. Khi châm kim, một chuyên gia kinh nghiệm sẽ khiến bệnh nhân hoàn toàn không đau, ngoại trừ thỉnh thoảng bệnh nhân có cảm giác thoáng qua như kiến cắn. Trong khi được trị liệu, đa số bệnh nhân cảm thấy thư giãn và dễ buồn ngủ. Mỗi khi huyệt được kích thích, bệnh nhân sẽ có cảm giác tê, nóng ấm, hơi nhức quanh vùng huyệt, hoặc cảm giác rần rần chạy dọc theo đường kinh mạch tương ứng. Ðó cũng là lúc huyệt được “đánh thức”, được khai thông. Vì thế, những cảm giác trên chính là những dấu hiệu tốt, cho biết huyệt đã đáp ứng một cách trọn vẹn sự kích thích của kim.

Phản ứng phụ do châm cứu gây ra thường rất nhẹ và tạm thời, gồm có: hơi chóng mặt, cảm giác đầu trống rỗng. Tuy nhiên, các phản ứng phụ này có thể tránh được nếu bệnh nhân không quá đói hay quá no trước mỗi lần trị liệu. Cạnh đó, một cách hiếm hoi, khi mũi kim chạm vào những mạch máu nhỏ li ti (capillary – vi mạch), một hạt máu thật nhỏ có thể sẽ theo ra ngoài sau khi rút kim.

Khi được dựa trên sự chẩn đoán chính xác, và xử dụng một phương huyệt tương ứng, khoa Châm Cứu sẽ đem đến cho bệnh nhân kết quả trị liệu tốt đẹp.

Tuy nhiên, có vài điều bệnh nhân cần ghi nhớ, khi tìm đến khoa Châm Cứu như sau:

* Hãy lưu ý Y sĩ nếu bạn đang có thai. Điện châm, và một số huyệt tuyệt đối không được xử dụng trong trường hợp này.

* Nếu bạn đang mang trong người một thiết bị điều hòa nhịp tim (pacemaker), bạn cũng không thể được Điện châm. Hoạt động của máy điện châm sẽ làm rối loạn hoạt động của máy điều hòa nhịp tim.

* Nếu bạn dễ bị xuất huyết hoặc xuất huyết bên trong (bầm), hoặc bị bệnh hoại huyết, một phương pháp trị liệu khác sẽ thích hợp với bạn hơn là Châm Cứu.

Châm Cứu có thể làm gì cho bạn?

Việc lượng giá tình trạng bất quân bình khí lực của bạn dựa trên những phương pháp chẩn đoán riêng biệt của Ðông y như bắt mạch, nghe giọng nói, quan sát sắc diện, cùng những phương pháp chẩn đoán khác, cũng như Y sử cá nhân (medical history), và gia đình bạn (family medical history). Từ kết quả lượng giá này, người thầy thuốc sẽ đề ra một nguyên tắc trị liệu, và một phương huyệt thích hợp.

Sau thập niên 1970, Tổ chức Y tế Thế giới đã xác nhận khả năng trị liệu của khoa Châm Cứu như sau:

1/ Những bệnh thuộc về thần kinh, cơ bắp, xương và khớp như viêm khớp, đau thần kinh, khó ngủ, chóng mặt, và đau nhức.

2/ Rối loạn tâm lý và cảm xúc như suy sụp tinh thần, buồn chán (Depression), lo âu (Anxiety).

3/ Rối loạn tuần hoàn như huyết áp cao, nghẽn mạch máu cơ tim, thiếu máu…

4/ Nghiện rượu và thuốc lá, bệnh béo phì (Obesity).

5/ Rối loạn đường hô hấp như viêm xoang, dị ứng, khó thở, suyễn…

6/ Rối loạn đường ruột như dị ứng thức ăn, tiêu chẩy mãn tính, táo bón, khó tiêu, kém ăn, viêm loét bao tử…

7/ Giúp các sản phụ sinh nở dễ dàng và nhanh chóng.

Ðến năm 1997, một bản nhận định được công bố bởi Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ xác nhận khoa Châm Cứu rất hiệu quả khi được áp dụng một cách riêng biệt, hoặc kết hợp với các phương pháp khác để trị bệnh nghiện ngập, nhức đầu, hành kinh đau, đau cơ bắp, viêm khớp, đau lưng, hội chứng đường hầm bàn tay (carpal tunnel syndrome), và suyễn.

Ngoài ra, những nghiên cứu khác cho thấy Châm Cứu còn đóng một vai trò tích cực trong việc phục hồi chức năng trong các trường hợp tai biến mạch máu não (Stroke), thoái hóa thần kinh (Multiple Sclerosis), chống nôn ói sau khi mổ xẻ (do phản ứng phụ của thuốc mê), chế ngự những triệu chứng trước hoặc sau thời kỳ mãn kinh, chống tăng hoặc giảm trọng lượng cơ thể, tăng cường hệ thống miễn nhiễm.

Kết luận:

Bắt nguồn từ Đông phương, với một lịch sử trên 2.500 năm, Châm Cứu đã khởi đi từ những bước sơ khai, vượt qua nhiều thời đại để kiện toàn cho đến hôm nay. Từ tiền bán thế kỷ 20, Châm Cứu đã có mặt trong các tài liệu Y học tại Pháp, lan dần đến các quốc gia Tây phương khác. Ở những quốc gia này, khoa Châm Cứu đã mở ra những hứa hẹn như là một trong những phương pháp trị liệu hữu hiệu và tích cực. Mặc dù không thể nói rằng Châm Cứu có thể trị được bá bệnh, ta vẫn có những bằng chứng hiển nhiên là, nếu được áp dụng một cách thích hợp, khoa Châm Cứu đã và sẽ đem đến trên thực tiễn lâm sàng nhiều kết quả khá lạc quan.

Christopher Cuong Nguyen L.Ac., NCCAOM., Ph.D.

References:

Xining, Cheng. Chinese Acupuncture and Moxibustion. Beijing: Foreign Language Press, 1987.

Maciocia, Giovanni. The Foundation of Chinese Medicine New York: Churchill Livingston, 1989.

Maciocia, Giovanni. The Practice of Chinese Medicine. New York: Churchill Livingston, 1994

Acupuncture Today, Vol. 3, Number 1, An MPA Media Public, Jan 2002

Mầu thời gian

Nhà ông bà Ngoại Ty rất là đông con cháu. Mỗi khi hè về, nhà ông bà Ngoại lại gom tụ những đứa cháu nhỏ từ xa thật xa như Tuy Hòa, Đà Lạt và gần nhất là Biên Hòa hay Dĩ An. Đông con cháu như vậy đó nhưng không khí trong nhà còn có sự hiện diện của một con rùa, một chậu cá lia thia, và một đàn chim cút. Cá lia thia cho bầy cháu nhỏ để dành chơi đá cá. Nuôi chim cút để lấy trứng cho các cháu ăn. Còn con rùa, con rùa này thì già lắm rồi. Nghe nói ngày xưa ai đó đã đem đến biếu ông Ngoại để ăn chứ không phải để nuôi đâu. Vậy mà cái thời gian « ngày xưa đó » cho đến bây giờ con rùa vẫn còn hiện hữu, sống ung dung giữa hai mùa mưa nắng. Sự hiện diện của con rùa đã được kết thành nhiều nhánh sông kỷ niệm vì rùa đã chứng kiến không biết bao nhiêu là lễ cưới hỏi của các dì các cậu. Để rồi sau đó lại ngơ ngác vui mừng bên sự ra đời của một bầy cháu lúc nha lúc nhúc. Đôi mắt hiền từ của rùa như muốn ôm trọn một đời sống bình yên.

Rùa ơi, có nhớ không những buổi trưa thật lắng đọng ấy rùa đã từ cái « phòng trọ » bò thật chậm ra sân. Cái khoảng sân nhỏ dùng để rửa chén, rửa chân. Và mổi lần Ty thấy bóng dáng rùa bò ra ngoài cái sân nhỏ này là Ty lật đật đi lấy một cái thau nước, rồi đặt rùa vào trong đó, không quên đổ thùng nước mưa vừa hứng khi nãy vào cái thau lớn này. Tha hồ mà rùa bơi cho thỏa thích nhé.

Sau cơn mưa, thời tiết như mát hẳn ra. Nụ hoa vàng đầu tiên trên giàn mướp Ty trồng đây rồi. Vậy là sắp có mướp ăn nay mai, tha hồ cho bà Ngoại nấu canh mướp. Còn gì nữa không? Bậc tam cấp chiều nay vắng lối đi « tha gạo » của gia đình họ kiến. Trời mưa ướt như thế này, ngồi ngắm rùa trong thau, thỉnh thoảng rùa ngước đầu lên nhai vài miếng xà-lách rồi lại cúi xuống, lặn hụp trong nước thật là một điều thú vị.

Nhưng hình như cuộc đời không giữ mãi được một chỗ ngồi nít nhỏ hoài như vậy. Ty đã bắt đầu bể giọng nói và gương mặt tự dưng tha về vài cái mụn be bé, vô trật tự, không biết đến từ đâu và đến từ bao giờ.

Và mùa hè nhàn hạ lại trở về. Năm nay, nhà Ngoại Ty « chứa » chị Sớm Mai từ Biên Hòa xuống. Chị xuống Sài Gòn để luyện thi vào Đại Học. Chị học suốt ngày. khi rảnh tay là chị cầm cây chổi quét từ nhà trên cho đến nhà dưới. Từ lúc có mặt của một Sớm Mai này hình như bà Ngoại bớt cằn nhằn cái tánh lơ đãng của Ty, nhà Ngoại dĩ nhiên cũng bớt đóng bụi dần.

Mỗi buổi sáng sau khi ăn chén cơm chiên, uống ly cà phê xong là chị hay rủ Ty quét nhà. Lúc đầu chị « dành » hết chuyện này, nhưng bà Ngoại lại thấy « sư hiện diện » của Ty làm nên một trang sử lười biếng nên bà Ngoại không « an tâm » và dặn chị phải « chia bớt  » việc làm cho Ty để chị có thời giờ mà học thi. Thật là lạ lùng, học thi với quét nhà, hai cái việc đó đâu có ăn nhập gì với nhau đâu? Nhưng mùa hè rồi cũng chấm dứt. Chị lại trở về Biên Hòa. Ước mong thi đậu vào Đại Học của chị coi như tan thành mây khói chỉ vì lý lịch chị không « trong sáng » chút nào.

Năm ngoái, anh Vũ, anh chị Sớm Mai, cũng xuống trọ nhà ông bà Ngoại để luyện thi Đại Học và kết quả là cũng « đậu cành mềm ». Lý lịch không « trong sáng » của chị không làm cho những người chấm bài thi phải bận tâm. Lý lịch chị đã bị xóa ngay từ lúc nộp đơn thi rồi. Đại Học đối với chị cũng sương mù lắm, mặc cho mọi người chế nhạo với nhau rằng Đại Học thời nay là học đại đó. Nhưng, dù có muốn « học đại » hay học « giả vờ » thì hai chữ lý lịch vẫn luôn luôn ám ảnh đi đầu.

Buổi tối, trước khi chị trở về Biên Hòa, tự dưng chị rinh gối, mền, ra ngoài phòng khách ngủ với Ty. Chị kể Ty nghe về Biên Hòa, về căn nhà « mát rượi » mà mẹ của chị và mấy đứa em đang đón… tin buồn! Vê` ngôi trường Ngô Quyền, vê` bạn bè Thầy Cô, và dĩ nhiên về một người. Ty còn nhớ, đêm hôm đó Ty nằm im thin thít, ôm gối ôm nghe chị kể về « người-bạn-của-chị  » với cả một nỗi niềm thân thiết sao sao đâu. Thú thật, lúc đó Ty cũng « mơ ước » khi nào « lớn lên », sẽ có được « một người bạn » như chị Sớm Mai vừa kể. Người bạn đó nếu có, hy vọng, sẽ dễ thương và hiền lành như thế.

Chị bị « đánh rớt  » khi thi vào Đại Học nhưng hình như đôi mắt chị, trong bóng tối của đêm hôm đó, đã cho cho phép chị nở một nụ cười thật ngọt ngào.

Phần Ty, giấy tờ sang Pháp cũng gần xong. Còn chị thì lại miệt mài đan áo, móc áo, bằng những sợi chỉ len mà không biết mẹ của Ty « tha » từ đâu về. Chị làm những công việc đó để kiếm tiền, hầu phụ với đồng lương cô giáo thật ít ỏi của mẹ chị. Trước ngày Ty sang Pháp, chị lại lặn lội từ Biên Hòa đem xuống cho Ty một cái nón len chị móc bằng những sợi chỉ xanh đậm màu. Cái nón thật đẹp, thật khéo. Cả nhà đều trầm trồ khen ngợi. Vậy đó, mà Ty lại thật lơ đãng để đánh rơi trên chiếc xe lam lúc nào không hay. Cái buổi chiều tím ngắt đó, Ty thật không ra gì! Ngó mặt chị Sớm Mai buồn so, Ty đành phải giả vờ đau bụng, và trốn luôn buổi cơm tối hôm đó vì sợ lại phải đụng độ gương mặt của chị.

Thế rồi Ty đi Pháp thật. Tưởng như nằm mơ vậy! Ty đi được vài tháng thì ở nhà Mẹ Ty cũng tìm cách ra đi để hầu mong sớm được đoàn tụ với gia đình. Nhưng đi ở đây, là đi không chính thức. Đi bộ, đi xe đò, đi ghe, rồi lại bị bắt, bị gạt. Mẹ của Ty lại tiếp tục ca cái « điệp khúc màu xanh hy vọng » để rồi lại bị lường gạt tiếp tục. Con đường ra khơi không biết đâu là bến bờ. Nguy hiểm thế nào? Hải tặc tấn công những chiếc thuyền ra sao ? Hai tiếng « nguy hiểm » ấy lớn lao và kinh khủng như vậy đó, nhưng ngoài biển vẫn có những con thuyền nhỏ lênh đênh. Số mạng con người thật nhỏ nhoi và chịu đựng. Chịu đựng ở đây là sự hy sinh của không biết bao nhiêu thân xác những cô gái để cứu lấy mạng sống của những người trên ghe, trên tàu. Vượt biên nguy hiểm lắm! Vậy đó, mà con người vẫn tràn ngập ra biển, chỉ vì hai tiếng kêu tha thiết là: Tự Do.

Lần sau cùng, mẹ Ty dắt theo ba cô cháu gái theo tháp tùng. (Trong đó dĩ nhiên có một Sớm Mai mà năm nào đã « không ngừng phân công » cho Ty quét nhà mỏi nhừ cả tay). Có thể gọi ba cô cháu này là ba-trái-bom-nổ-chậm cũng được. Và thật là may mắn, một may mắn lớn lao cho tất cả mọi người thân trong gia đình là chiếc tàu năm nào đó đã ra đi thật bình an, đã ghé được một bến bờ. Vì nghe kể lại khi đến bờ tự do, căn nhà sàn ở tạm trên đảo của mẹ và ba cô cháu gái này đã vậy còn rất đông « anh hùng Hảo Hớn » ghé thăm và giúp đỡ nữa. Thôi, hãy coi như đó là số Trời. Trời cao thì có mắt. Chỉ tội ở chỗ phần đông những người ra khơi đều là những người hiền lành, vô tội. Trời cao, nếu có mắt thật, thì hãy luôn luôn có mặt để giúp đỡ những người hiền lành vô tội đó mà chống chọi với những đói, khát, hiểm nguy ngập tràn. Đừng bao giờ ngủ quên, ngủ muộn. Xin hãy luôn có mặt để che chở những con tàu nhỏ vượt qua bao cơn bão táp mà ghé được bến bờ tự do.

Thế là qua bao ngày lênh đênh, chiếc tàu có chở mẹ và ba cô cháu gái đó đến được đảo Pulau Bidong. Một nơi tạm dung mới. Có cát biển, mặt trời chói chang, cây cối và những phần ăn tràn ngập tình thương của Cao Ủy Tị Nạn! Ngoài tình thương đó ra còn có được một « tình thân hàng xóm » của « những anh hùng hảo hớn » mà Ty vừa nhắc. Trong đó có một câu chuyện tình xảy ra và bền chặt cho đến bây giờ. Ty xin phép được gọi đó là mối tình tị nạn. Nghe có vẻ cải lương thật nhưng trong tình yêu, đôi khi có những điều cải lương ghê gớm lắm. Chỉ khi nào, mình thương yêu nhau thật sự mình mới không nhận thức được những gì mà người khác cho là ma-ri-sến, cải-lương-chi-bảo, không thực tế và lãng mạn! Hay là đôi khi, mình cũng « cảm nhận » được những điều đó mà có khi mình không muốn nhìn thấy sự thật chăng? Ty nghĩ, khi chị Sớm Mai và Chàng Hảo Hớn đó đã dùng chút lãng mạn, chút mơ mộng, để hai người cố gắng, cùng vẽ cho nhau một bức tranh cho mai sau thì mơ mộng và hy vọng không thiệt hại ai mà lại có khi đem đến cho hai người một màu nắng vàng dịu dàng. Huống chi hy vọng đó rất cần thiết nơi vùng tạm dung trên hòn đảo năm nào.

Mẹ Ty rời trại, rời đảo sớm nhất. Ba cô cháu gái ở lại tiếp tục đợi và chờ được bảo lãnh đi. Ty chỉ nghe kể lại nên cho dù có muốn chia sẻ nổi khổ cực của những ai đã từng sống trên đảo tạm dung chắc cũng không làm sao chia bớt gánh nặng đó được. Chỉ biết vài tháng sau trong ba cô cháu gái đó một người thì bay về phía nam California, hai cô cháu gái còn lại thì không ai nhận! Trong đó, dĩ nhiên lại có một Sớm Mai của Ty chứ không ai xa lạ hơn. Chị chắc mang số con rệp hay sao không biết? Xin sang Mỹ thì Mỹ lại lắc đầu. Nói rằng chị có anh em ở bên Hoà Lan, hãy xin tị nạn bên Hòa Lan. Mà xứ khỉ ho cò gáy đó lại bác đơn, với lý do chị hơn 19 tuổi. Thế là chuyển sang Úc, rồi Gia Nã Đại. Nhưng xứ nào cũng bác.

Số chị Sớm Mai này chắc phải nấu một nồi chè xin đổi lại tên là vừa. Chị tên Sớm Mai mà lúc nào cũng thấy cả một bầu trời sớm mốt. Chuyện gì cũng phải chờ, phải đợi. Chắc sẽ còn xách nước dài dài, và ngồi chờ Mỹ « hốt rác ». Nhưng mà, đã gọi là số Trời rồi, Trời phán rằng Sớm Mai cũng sẽ sang Mỹ, sẽ rời đảo Pulau Bidong (Mã Lai), sẽ chuyển sang Bataan (Phi Luật Tân), sẽ được đưa vào học một lớp Anh Văn, rồi sẽ cho « câu chuyện đầu tiên » vào quá khứ, rồi sẽ bỏ quên hết vài mẩu tình vụn vặt ở Bidong (Mã Lai), để rồi sau đó sẽ gặp duy nhất một người!

Cũng trong lúc đó, Ty rời khỏi thành phố Paris để về sống một thời gian ở Châtenay-Malabry. Căn nhà gồm có ba phòng ngủ, khá rông rãi. Nhà nước cấp cho căn nhà này sau khi mẹ Ty đặt chân đến Pháp. Châtenay-Malabry của cách đây hơn hai mươi năm là một vùng ngoại ô phía Nam Paris, nghèo nàn và buồn tẻ lắm. Căn nhà nơi Ty ở càng không có gì đặc biệt ngoại trừ có sự hiện diện của một thân cây to lớn (không biết gọi là cây gì). Vào mùa Thu đẹp vô cùng. Trăm ngàn chiếc lá vàng, nâu, đỏ, theo gió mưa mà phai màu.

Cũng từ nơi đó, thỉnh thoảng mẹ cũng nhận được thư của người thân, gia đình tá túc khắp nơi trên thế giới. Trong số những lá thư đến Châtenay, nhờ chuyển về Việt Nam, có một vài tin tức về chị Sớm Mai và Chàng Hảo Hớn. Hình như mối « tình-vượt-biên » của hai người không được giản dị cho lắm. Bên nhà thì không có ý kiến gì ráo trọi nhưng trong khi đó lại có một người phản ứng kịch liệt. Đó là dì Vi. Dì Vi ở Houston vừa lo lắng, vừa lo ngại rất xa xôi rằng chị Sớm Mai không học hành đến nơi đến chốn, vì:

– Sang đây, ngoài hai chữ đi tìm Tự Do là chữ học cho thành Người thôi. Không có bồ bịch gì hết. Dẹp hết. (Vậy là cái chuyện muốn « chống lầy » thì đừng nên « bàn tới « , chuyện ấy xa xôi vời vợi lắm chị Sớm Mai à!)

Thế mà, Chàng Hảo Hớn vẫn cố gắng gọi điện thoại xin phép, năn nỉ, giải thích. Tha hồ cho Chàng lấy chuyến bay từ xa xôi về nơi chị Sớm Mai đang cư trú, đang chăm chỉ lo « học thành Người ». Chàng còn can đảm hơn, mặc dù không cho phép, Chàng vẫn đến tận nhà và xin được gặp mặt chị Sớm Mai. Nhưng Dì Vi cương quyết từ chối. Cái cửa ngỏ đầy gian truân, trắc trở ơi! Chàng xách hành lý về lại nơi Chàng ở. Còn Nàng thì không hề hay biết được niềm thất vọng, ngao ngán từ phía Chàng đâu, phải thế không?

Năm 1986, lần đầu tiên Ty làm một chuyến ngao du trên xứ Mỹ. Và ngôi nhà mà khi Ty đặt chân đến Californie đầu tiên, lại là nhà chị Sớm Mai cùng Chàng Hảo Hớn kia. Bao nhiêu là thời gian đợi chờ, đầy gian truân khắc khổ. Vậy đó, cuối cùng hai người cũng lấy được nhau. Hay thật! Ngôi nhà nhỏ thôi, nhưng đầm ấm hạnh phúc làm sao. Trên bàn ngủ có một tấm hình Chàng Hảo Hớn mặc quân phục trắng, quân phục Hải Quân, ánh mắt mơ màng ngó ra biển, trông thật là lướt sóng. Ty vẫn nhớ mãi đôi mắt chị Sớm Mai vời vợi yêu thương khi « giới thiệu sơ sơ » về tấm ảnh đó như thế này:

– Ba chị làm lính nên chắc vì vậy nên chị cũng mê lính luôn!

Rồi chị quay sang Ty cười :

– Hình chồng Sớm Mai đó, « bà đầm »! Sao, ngó coi được không ?

Ty nhớ mình có trầm trồ, khen mát một câu:

Được lắm. Chị Sớm Mai mà chấm chắc chắn là được rồi!

Chị kéo Ty ngồi xuống mép giường kể lể :

– Tụi chị quen nhau từ bên đảo lận đó và bây giờ thì có nhỏ Thanh Mai.

Còn bây giờ thì chị Sớm Mai và chàng Lính Thủy lại có thêm một chú nhóc tên gọi là Thanh An. Ty lại thêm một đứa cháu nhỏ nữa gọi bằng dì. Cái trương mục « con gà đẻ trứng vàng » vào dịp lễ Giáng Sinh của dì Ty càng ngày càng hao đậm. Cháu chắt không biết ở đâu mà cứ càng lúc, càng đông. Riết rồi không nhớ tên luôn. Dì Ty thì thơ thẩn, trí nhớ lại rất khiêm nhường, không muốn nhớ tên cô nhỏ hay chú nhóc nào hết, vậy mà các bậc « phụ huynh » trong gia đình thì cứ hay gửi hình, nhắc nhở hoài. Thật là khổ mớ đời.

Nói là nói như vậy chứ thật ra, thỉnh thoảng có dịp sang thăm gia đình bên nớ, bên này cảm thấy hạnh phúc tràn dâng. Căn nhà của chị Sớm Mai và chàng Lính Thủy đã dọn về quán Hột Soàn rồi (Diamond Bar). Căn nhà có tiếng đàn dương cầm của nhỏ Mai. Có những khung hình đẹp nhưng đã được chàng Lính Thủy tháo bỏ tấm kiếng vì sợ động đất.

Ty còn nhớ mãi cái căn nhà đầu tiên khi đến Californie, căn nhà kế cạnh « con mẹ Mễ Tây Cơ ». Những buổi sáng đi làm chị Sớm Mai và chàng Lính Thủy đem gửi con sang bên đó. « Con mẹ Mễ Tây Cơ » cho nhỏ Mai bú bằng cách đặt một cuốn sách lên trên người nhỏ Mai, lúc đó mới được bốn tháng tuổi, rồi « con mẹ Mễ » kê bình sữa trên đó cho nhỏ Mai bú mình ên. Chị Sớm Mai và chàng Lính Thủy đau lòng lắm mà không biết làm gì hơn. Tội nghiệp nhỏ Mai, hình như « biết thân phận » mình hay sao nên không thiết bú luôn. Thà nhịn đói, nằm đợi ba, mẹ đi làm về để được ba, mẹ ôm vào lòng ăn sữa trừ hao.

Ty còn nhớ đến sự vất vả, tằn tiện của căn nhà đầu tiên. Vào một buổi chiều hôm đó, không biết chàng Lính Thủy xin được ai một cái tủ để đem về đựng quần áo nhỏ Mai, phòng của nhỏ Mai lại nằm trên tầng nhất. Ty tiếp chàng Lính Thủy một tay. Hai anh em khệ nệ « bưng » cái tủ nặng khủng khiếp « chưa từng thấy trong cuộc đời » đó lên phòng. Thật tình mà nói, lúc đó Ty đã nghĩ rằng:

Quăng cha cái tủ đời « Louis-thứ-mười- mấy » này cho rồi!

Đi ra tiệm chọn cái tủ nào khác, trả thêm tiền (nếu cần thiết) và nhờ họ mang thẳng vào phòng. Hơi đâu mà cực thân chi cho hao mòn sắc thể vậy không biết. Bên Tây, người ta « vưỡn » hay làm như vậy đó mà.

Bây giờ ngồi nhắc lại, cứ tưởng chừng như mới hôm qua, hôm kia. Còn hai tháng nữa thôi là đến Giáng Sinh rồi. Năm nay, Giáng Sinh lại tổ chức họp mặt gia đình ở Tampa. Thỉnh thoảng mẹ của Ty hay nhắc về chàng Lính Thủy và nói rằng:

Chồng của chị Sớm Mai là một người vô cùng tế nhị.

Mẹ của Ty nói sao, Ty xin lập lại y như vậy. Anh mồ côi cha-mẹ từ thưở nhỏ, là một người lính Hải Quân, thuộc khóa 20 Đệ Nhị Hổ Cáp, là chồng chị Sớm Mai, là một người cháu rể trong gia đình và một người anh rể (lại chỉ là anh-rể -họ thôi), nhưng tấm lòng anh rất là chân thật, giản dị và nhất là anh sống rất có tình gia đình. Không biết anh đóng vai trò con rể như thế nào? Chứ hai vai trò: Cháu rể và anh rể thì người lính Hải Quân, thuộc khóa 20 Đệ Nhị Hổ Cáp, của chị Sớm Mai này phải nói là rất đạt.

Có một câu nói mà anh đã nói với Ty như thế này:

– Nếu anh không thương, và tội nghiệp sự chờ đợi lẫn tin tưởng của Sớm Mai thì chắc chắn là anh đã bỏ cuộc từ lâu lắm rồi. Anh nghe kể về dì Vi, nhưng thật sự anh không ngờ dì Vi lại khó đến như thế. Ty có tưởng tượng được hay không thời gian tụi anh đi vượt biên, gặp nhau trong lớp học Anh Văn, rồi sau đó mỗi người một ngã. Sớm Mai về Houston, trong khi đó anh lại về California. Rồi chắc dì Vi không « yên tâm » trong việc học hành của Sớm Mai sao đó, Sớm Mai lại « được » chuyển lên tận Lansing (Michigan). Ty hãy tính thử đi, thời gian là bao nhiêu lâu? Anh thương Sớm Mai lắm, mặc dù đã nhiều lần dì Vi làm anh chán nản muốn bỏ cuộc luôn.

Đây, chỉ là một bài viết. Ghi lại theo trí nhớ, kỷ niệm. Anh đã nhiều lần « chán nản, muốn bỏ cuộc » mà cho đến nay câu chuyện của anh vẫn mãi gắn bó, êm đềm, thủy chung. Không biết phải ghi thêm những gì bây giờ nữa. Thôi thì, hãy nhận nơi đây, chị Sớm Mai và người lính Hải Quân, thuộc khóa 20 Đệ Nhị Hổ Cáp, hãy nhận nơi Ty, một lời chúc Lành. Một lời chúc chân thật nhất cho hôm nay và, mai sau.

t r a n g t h a n h t r u c

Tranh vẽ của Dương Phương Linh

http://linhnn.free.fr/mes_galeries.htm

Song-Ngư

Song-Ngư là một ký hiệu trong tử vi Tây Phương cho những ai có ngày sinh nhật từ ngày 19 tháng hai đến 20 tháng ba. Có sách ghi là ngày 18 tháng hai, có sách lại ghi là ngày 20 tháng hai. Trúc chọn ngày 19 cho có vẻ dân chủ! Có người cho rằng đó là dạng người: « Gió thổi chiều nào, nghiêng về chiều ấy ». Bởi Song-Ngư mang dấu hiệu của hai con cá, mỗi con bơi một chiều. Nghĩa là tâm tánh một người tuổi Song-Ngư có thể rất hiền, và cũng có thể rất hung bạo. Và cũng có thể luôn, người tuổi này mang hai cá tánh ngược nhau cùng một lúc.

Trúc có cơ hội làm việc chung với một số người mang tuổi Song-Ngư. Hôm nay, Trúc xin được ghi lại câu chuyện « tử vi » này, để cho bạn đọc tự nhiên suy nghĩ và xem có nên tìm kiếm làm quen, hay tiếp tục thân thiện, với những con cá bơi mỗi con một chiều này không nhé.

Khi nhóc Trực nhà Trúc được năm tháng tuổi thì Trúc cũng đổi chỗ làm. Trúc không tìm kiếm nhưng là vì ông sếp cũ muốn tạo nên « vai cánh » ở chỗ làm mới thành thử kéo theo hai người làm việc chung với ông khi xưa. Và Trúc là một trong hai người đó. Nhưng làm việc chung với ông không bao lâu, trong hãng lại tìm cách cho ông về hưu sớm. Họ tìm được một người thay thế ông. Trẻ tuổi hơn, ít kinh nghiệm hơn, nhưng không quan trọng lắm, miễn lương hướng họ trả nhẹ hơn, là họ chấp nhận sự thay đổi này ngay.

Và thế là một cô sinh viên mới ra trường đi làm chưa được bao lâu bước vào làm sếp tụi Trúc. Chức tước ghi trong giấy tờ hành chánh: Giám Đốc Kế Toán. Cô gái ốm nhom, nhưng mỗi bước đi rất nặng nề âm thanh. Không biết là cố ý, hay vô tình. Vì nếu như một người không thích gây sự chú ý của đám đông thì họ sẽ biết cố gắng tạo cho mỗi bước đi của mình nhẹ nhàng hơn. Ngày sinh nhật của cô là 8 tháng ba. Ngày lễ dành riêng cho phụ nữ. Ngày sinh nhật của Trúc là 5 tháng ba, không nằm trong ngày quan trọng nào đáng để được nhắc. Coi như hai người cùng sanh vào tháng ba, cùng mang tuổi Song-Ngư. Hiện tại chỉ có khác là văn phòng của cô ở tầng cao hơn, cho nên lương hướng cũng khác xa hơn.

Công việc làm đầu tiên của cô là tổ chức lại mớ « đàn em » sao cho quy củ. Và « đàn em » của cô ở đây thì không ai nhỏ tuổi hơn cô cả. Nhưng cô không ngần ngại để nói chuyện một cách lịch sự trong cao ngạo và, hỗn xược. Cô gọi từng người một vào văn phòng riêng để tìm hiểu thêm về quá trình làm việc trong suốt thời gian cô chưa « xuất hiện ». Trong hãng, trong số mười sáu người kế toán, có bốn người có thể gọi là « tùy viên » cho ông sếp cũ. Đó là cô thư ký riêng, hai người kế toán (một cô bạn, và Trúc được kéo vào từ trong một hãng trước nữa), và một cô sinh viên tập sự. Còn lại, không « quan trọng » gì cho lắm với tầm đạn của cô. Và chuyện gì xảy ra sẽ xảy ra. Cô tìm bằng mọi cách để chê bai, than phiền, có lúc lớn tiếng hạ nhục cô thư ký. Đến độ cô thư ký không chịu đựng nổi sự áp lực nữa, rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần và, cuối cùng tự xin thôi việc.

Coi như ván cờ ra quân đầu tiên của cô gái tuổi Song-Ngư này được xem là xuất sắc.

Người thứ hai được cô « quán xuyến » là cô sinh viên tập sự. Cô bé này trong đầu lúc nào cũng mang ơn người thầy của cô đó là ông sếp cũ. Cô rất chăm học hỏi, và làm việc. Nhưng những gì cô học hỏi, và làm tốt trước đây tự dưng cũng trở thành  » chướng ngại vật ». Cô bé lại chơi thân với cô thư ký, nên càng không làm « vui lòng » hơn với cô gái ốm nhom mang chức tước: Giám Đốc Kế Toán. Và thay vì, cho thực tập những công việc mới có hữu ích sau khi ra trường, cô sinh viên chỉ được phép nhai đi, nhai lại, những công việc cũ rích. Viện cớ là sự học tập của cô không có phần tiến bộ, nên cần phải làm cho thạo những công việc cũ trước đã.

Phải nhìn nhận một điều là khi người ta muốn xóa bỏ ai trong danh sách gọi là chướng ngại vật, người ta rất cương quyết. Đó phải gọi là một người có cá tánh. Nghĩa là người ấy làm việc có mục đích. Biết hướng đi của mình, hẳn hòi. Cho dù hướng đi có sai lầm ngay từ những bước ban đầu!

Người thứ ba, không ai khác hơn là Trúc. Thú thật, Trúc cũng đã rơi vào tâm trạng khủng hoảng tinh thần. Làm việc không bao giờ cảm thấy xong. Phải luôn đến rất sớm, về rất trễ và còn phải mang công việc về nhà làm thêm nữa. Nhưng không phải vì thế, mà công việc trôi chảy đâu. Lúc nào nó cũng đình trễ. Lúc ấy, nhóc Trực còn rất nhỏ, ban ngày nó ở trong nhà trẻ. Đến chiều bà ngoại rước về dùm, và nó thích chờ mẹ về để đút cho ăn chứ không là ai khác. Khi bà ngoại đi làm trở lại thì ông ngoại thay thế giữ cháu. Và mẹ thì luôn phải về rất trễ cho nên nó thà ngủ chứ không ăn uống gì hết. Thế là nó tự quyết định, bỏ luôn phần ăn chiều bắt đầu từ đó. Trúc chỉ kịp nhận ra những điều sai lầm ấy sau khi « được » cô sếp mới « cắt » bớt một số việc làm quan trọng.

Đó là một trong những thông điệp: Không tin tưởng, coi thường. Hãy khuất mắt đi.

Đầu tiên, cô sếp đề nghị: Trúc nên thay đổi số giờ làm việc. Có nghĩa là thay vì làm 39 tiếng một tuần, (cách đây mấy năm về trước bên Pháp chưa có luật làm 35 tiếng), thì Trúc sẽ làm hai mươi hai tiếng thôi. Vì cô nghĩ rằng Trúc có con nhỏ, nếu Trúc làm việc ít lại thì sẽ có thời gian hơn để lo cho gia đình. Ban đầu, Trúc xem đó là một thiện ý. Nhưng vì sinh nhai của gia đình Trúc từ chối. Thấy không có kết quả, cô ra « chiêu » thứ hai. Chiêu này cô đã từng áp dụng với hai người trước rồi. Nhưng với Trúc, cô ra mạnh tay hơn, nghĩa là trách móc, chê bai, ngay tại trong văn phòng trước mặt bao nhiêu người. Và khi Trúc cũng « măng phú », có nghĩa là sếp hay không sếp Trúc cũng coi như pha. Bởi vì Trúc nghĩ rằng, chúng ta là loài người giống như nhau thôi. Ngoài những điều hiểu biết may mắn mình có, mình đạt được, nếu không biết ơn đến gia đình, đến trời đất, thì cũng đừng có làm tàng quá đáng. Là loài người giống nhau, mình cần phải có sự tế nhị, lễ phép, tôn trọng tối thiểu nào đó. Sức chịu đựng của con người, Trúc nghĩ cũng có giới hạn thôi. Một phần nào đó, vừa-vừa-phải-phải thôi. Và thế là Trúc cũng trả lời to bằng âm vực của cô sếp vậy. Cô ta đỏ mặt, giận dữ, và cuối cùng bước vội ra khỏi văn phòng không quên bỏ lại câu:

– Theo tôi vào văn phòng ngay.

Trúc đứng lên, nghĩ thầm:

– Măng phú. Theo thì theo. Ngán ai!

Trúc bước theo vào văn phòng. Khi cánh cửa đóng lại tự dưng giọng nói của cô cũng biến dạng khác hơn. Thật lạ lùng. Cô nói chuyện ôn hòa, và có vẻ như rất lấy làm đáng tiếc cho sự việc vừa xảy ra! Trúc dựa vào tình hình lúc đó mới nói cho cô hiểu vài điều. Mong là cô sẽ không phiền hà mà (hy vọng hão huyền!) cô sẽ thông cảm thôi. Nghĩa là, công việc cô giao phó càng lúc càng nhiều, ngoài giới hạn giờ làm việc. Mọi người biết như thế, nhưng ai ai cũng đều cố gắng vượt qua hạn định của thời gian. Nhưng ngược lại không bao giờ được một sự khuyến khích, mà lúc nào cũng những chê bai, không ngừng, không ngớt. Điều này vô tình, Trúc muốn bàn đến vấn đề… tăng lương! Và cô sếp mới trả lời rằng, điều mà Trúc vừa nói không nằm trong ngân khoản của hãng. Cô khuyên Trúc, nếu Trúc hay ai đó cảm thấy không hài lòng, cứ việc đi tìm chỗ khác mà làm. Cánh cửa luôn mở rộng!

Thật tình ngay lúc đó, không biết vì số Trời đã định hay là vì điều gì khác. Tự ái dân tộc của Trúc dâng cao. Trúc bị dằn co giữa sự bỏ đi và, ở lại. Trúc cảm thấy bị tổn thương vô cùng. Nhưng không biết Trời xui, đất khiến ra làm sao, Trúc lại ngó lơ qua cửa sổ, im lặng. Bởi vì đó là một lời nói khích, vô cùng nguy hiểm. Nếu không dằn được lòng tự ái, Trúc đã bỏ đi ngay lúc đó rồi. Nhưng trong tích tắc, (giống như thí mạng cùi), đưa đến cho Trúc một quyết định mới. Trúc tự nhắc mình, bằng mọi cách, người bước ra khỏi hãng sẽ không là Trúc, không bao giờ! Mà phải là cô sếp ngang tàng này mới được. Trời cao luôn có mắt! Cho nên, khi cô sếp hỏi Trúc là có vấn đề gì để muốn nói thêm hay không? Trúc đã không ngần ngại nói rằng:

– Làm sếp, ngoài sự hiểu biết, ngoài kiến thức, ngoài trách nhiệm, còn phải biết cách cư xử cho đúng.

Một lần nữa, mặt cô đỏ như trái sung rụng. Cô run giọng, hỏi lại Trúc:

– Xin cho biết thế nào là cách cư xử đúng?

Trúc trả lời rằng:

– Khi nói chuyện với một đứa nhỏ, không phải là vì nó nhỏ tuổi hơn, nên người lớn tự cho phép là mình có quyền nói chuyện trực thượng hơn.

Và thêm điều ngu xuẩn nữa thay vì xì-tốp ở đó cái miệng Trúc phát ngôn luôn rằng:

– Khi mình muốn cai trị ai, điều trước nhất là mình phải cho người ấy nể phục. Từ sự nể phục ấy, người ta sẽ tin tưởng mình hơn, cảm mến mình hơn, do đó người ta sẽ biết tìm cách giúp đỡ mình tận tình hơn!

Cô sếp ra vẻ cám ơn Trúc là dám nói thẳng, nói thật. Xong câu chuyện, cô mời Trúc ra khỏi cửa (cho rảnh nợ chắc). Mười lăm phút sau, khi Trúc đụng độ cô ở phòng toa-lét, cô đóng cửa cái rầm. Bỏ lại bộ mặt sắc lạnh như viên đạn. Một tiếng đồng hồ sau đó, Trúc biết luôn mình vừa bị thiên chuyển sang công việc khác! Dưới sự kiểm soát của một kế toán viên khác, thay vì những công việc ấy tự Trúc làm từ trước cho đến nay.

Giờ ăn trưa, bạn bè khuyên Trúc đừng thèm để ý làm gì đến sự việc này. Cứ « măng phú » đi! Vì lương hướng vẫn phải trả Trúc « nguyên vẹn ». Trúc không phải đến quá sớm, về quá trễ, không phải mang thêm việc làm về nhà. Và điều quan trọng khác là Trúc đã rời khỏi “tầm đạn” của cô sếp này rồi.

Thế mới biết hai con Song-Ngư khó có thể gặp nhau trên một dòng nước!

Người Pháp họ có câu: « Hãy đừng ném trái banh vào ai, vì khi trái banh dội ngược lại, nó sẽ dội với một sức mạnh gấp hai lần khi mình ném đi ». Không hiểu ở trường hợp này, Trúc là người ném trái banh đi đầu tiên, hay là cô sếp?

Vào ngày lễ Halloween, cô sếp « yêu cầu » tất cả mọi người trong văn phòng kế toán đến hãng với những bộ đồng phục như các nhân viên trong khách sạn của hãng mặc! Thông điệp đưa ra, không ai tán thành, (đó là lần đầu tiên, mọi người cùng bác!), cô giận điên người lên và cho rằng đàn em “không có” gu hài hước! Khi đến Giáng Sinh cô phát cho mỗi người một món quà gói bằng giấy báo. « Nguyện vọng » cô là khi mọi người nhìn món quà trên bàn sẽ nhớ đến công việc của cô giao phó! Quà của cô cho Trúc là một tượng con mèo màu vàng bằng gỗ. Mắt màu đỏ như máu và xanh lè, như muốn nhát ma ai. Đương nhiên cô thừa biết, Trúc vốn ghét mèo. Vì loài thú này, đối với Trúc, tượng trưng cho sự không trung thành. Nó chỉ tìm đến mình, khi nó cảm thấy cần thiết. Còn không, nó nằm phơi nắng và ngủ li bì suốt ngày!

Người thứ tư, là cô bạn làm chung hãng với Trúc khi xưa. Cả hai đều là vai cánh của ông sếp cũ. Cô bạn này cho đến ngày nay vẫn tồn tại. Mặc dù có một thời gian tụi Trúc đã tưởng rằng khi cô đứng, chỉ cần đụng nhẹ vào cô, cô cũng có thể té nhào. Thế mới hiểu được và thông cảm hơn cho những ai bị khủng hoảng tinh thần. Sống trong tình trạng lo lắng, biếng ăn, mất ngủ. Nếu tình cờ, Bạn đọc có gặp gỡ những người này, nếu không thể hiểu được họ với những vui buồn thất thường, thì hãy đừng trách họ. Trúc đã đi suốt khoảng thời gian dài với cô bạn của Trúc, trong tư thế « nhân chứng ». Đặt trường hợp sẽ phải đương đầu với cô sếp khi cùng nhau lên gặp hội đồng kỷ luật!

Những năm về sau, khi mỗi người một chỗ làm mới, có dịp nhắc đến những kỹ niệm này không ai không nhớ đến những ngày tháng “kinh hoàng” đã qua. Cuối cùng rồi cô sếp cũng phải tự xin nghỉ việc. Cô đã bị áp lực ở trên, cũng như cô đã từng gây áp lực cho người khác. Cô không thể đi xa hơn mục tiêu là: Cai trị và lấn áp. Cô phải xin nghỉ việc, và cơ quan cao cấp trên muốn rằng cô ra khỏi hãng, càng sớm, càng tốt. Sẽ không có người để thay thế cô, cho nên cô không cần phải ở nán thêm một giây phút nào! Và ngày cô rời hãng lại là ngày lễ Cá: 01 tây tháng tư.

Ngày cô sếp ra đi, mỗi người được tặng một tấm hình do chính cô sếp chụp! Phía sau lưng mỗi tấm hình, ngoài cái “tình cảm riêng” của cô đối với người được tặng, cô có ghi địa chỉ, cùng số điện thoại di động nữa. Phía sau lưng tấm hình cô tặng Trúc, cô ghi: “Hình ảnh của Trúc trong tôi, là một cảm tử quân!”

Amen!

Có một lúc Trúc ngồi phân tách những chuyện đã qua. Trúc không nghĩ bản thân cô là một người ngang tàng, dữ dằn, kém suy nghĩ để đi đến những hành động như thế. Bởi vì, khi đứng trước mặt mọi người cô luôn cố ý cho mọi người thấy rằng, cô là người hiểu nhiều, biết rộng. Nhưng đằng sau lưng, Trúc không chắc cô hiểu biết được điều gì cả. Cô muốn mọi người áp dụng kế hoạch của cô, trong khi đó cô chưa một lần thực tập, chưa một chút kinh nghiệm. Cô luôn nói với mọi người là cánh cửa văn phòng luôn mở rộng để đón tiếp, nếu như ai có gặp vấn đề gì khó khăn. Nhưng khi bước vào văn phòng của cô rồi, cô luôn hỏi ngược lại là theo người gặp vấn đề ấy, cách giải quyết sẽ ra sao! Cô không thể giải quyết được những vấn đề nhỏ, thì tư cách chi để giải quyết được những vấn đề lớn. Và thay vì tạo dựng được « vai cánh » mới, cô đã dùng sự ngang tàng, phách lối, khinh khi của mình mà tự hại mình.

Hình như sau hai chữ: Tham Vọng, là Thất Vọng?

(Có người cho rằng, cái cô tuổi Song Ngư này coi vậy mà nhu mì, dễ thương. Bởi nếu không Trúc đã bị đuổi để cảnh cáo cho đám bạn còn lại, vì cái tật dám trả-lời-trả-vốn rồi!)

t r a n g t h a n h t r u c

Thư pháp Văn Tấn Phước